THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC QUÝ NHÂN

    Thiên đức vốn là đại cát, nếu gặp ngày giờ thì rất tốt, thi cử sẽ đỗ cao, làm việc gì cũng thành công... Trong mệnh nếu có thiên, nguyệt đức thì cầu việc gì cũng lợi, sĩ nông công thương làm nghề gì cũng gặp may. Anh em, vợ chồng không khắc hại nhau, âm đức tổ tiên dồi dào, còn trẻ đã thành đạt.

    Thiên Đức hay còn gọi là “Thiên Đức quý nhân”, là một cát tinh (sao tốt) xuất hiện khi có sự kết hợp giữa

    Địa Chi của tháng sinh và Can Chi của ngày, giờ sinh như trong bảng sau:

    Thiên Can ngày Giáp Ất Bính Đinh Mậu
    Địa Chi
    Sửu Tý Hợi Hợi Sửu
    Mùi Thân Dậu Dậu Mùi

     

    Thiên Can ngày Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
    Địa Chi
    Tý Sửu Dần Tỵ Tỵ
    Thân Mùi Ngọ Mão Mão

    Theo bảng trên, nếu người sinh vào tháng Dần, trong Thiên Can của ngày/giờ sinh có Nhâm hoặc Định; người sinh vào tháng Mão, trong Địa Chi của ngày/giờ sinh có Tỵ hoặc Thân, thì được cho là có sao Thiên Đức quý nhân. Những trường hợp khác cũng suy ra tương tự theo bảng. Người có sao Thiên Đức quý nhân trong mệnh cả đời tốt lành, vinh hoa phú quý.

    Nguyệt Đức quý nhân. Những trường hợp khác cũng suy ra tương tự theo bảng sau:

    Chi tháng sinh Dần, Ngọ, Tuất Thân, Tý, Thìn Hợi, Mão, Mùi Tỵ, Dậu, Sửu
    Can tứ trụ Bính Nhâm Giáp Canh

    Quy luật này nghĩa là người sinh vào ngày Bính Hỏa của tháng Dần, Ngọ, Tuất;
    ngày Nhâm Thủy của tháng Thân, Tý, Thìn;
    ngày Giáp Mộc của tháng Hợi, Mão, Mùi và ngày Canh Kim của tháng Tỵ, Dậu, Sửu thì có được sao Nguyệt Đức. Người có sao này trong mệnh thì cũng giống như có sao Thiên Đức, cả đời không lo buồn, không gặp nguy hiểm.

    Là sao giải cứu: tăng sự tốt cho các sao tốt, giảm bớt sự hung của các sao xấu.

    Thiên đức, nguyệt đức là mặt trời và mặt trăng hội hợp chiếu vào, nên bất cứ sự ám muội nào cũng không tồn tại được. Cho nên khi gặp sự cướp bóc, độc ác đều có thần cứu giải. Khí đẹp của thiên đức là thần hoá hung thành cát, đại phúc đức;

    Đó là thần cứu giải, mọi nạn đều qua; người hiền từ, hay bố thí, làm việc theo công bằng, yêu nước thương dân, thông minh trí tuệ, tài cán hơn người, không bị hình phạt, gặp hung hoá cát, gặp nạn được cứu.

    nếu có thêm lộc, mã, ấn, thực, quý nhân giúp thêm, hoặc có cả thiên đức và nguyệt đứcthì sẽ có đủ tài, quan, ấn, thực;

    nếu còn được tam kỳ và ngũ hành sinh vượng, không bị thương khắc phá hại thì hiển đạt vinh hoa, suốt đời không gặp điều gì ngang trái.

    Nhưng nếu bị tử tuyệt, thương khắc, xung phá thì việc gì cũng không thành;

    Trong hai đức thì thiên đức làm đầu, nguyệt đức thứ hai. Nó làm cho lực của tài quan ấn thụ tăng lên gấp bội, nên can ngày (mệnh chủ) càng thêm tốt.

    Hai đức này đóng ở trụ ngày thì chủ về cuộc đời không gặp gì nguy hiểm. Gặp được tướng tinh thì công thành danh toại.

    Được một đức phù hộ thì mọi điều xấu được giải thoát.

    Nam gặp nó đường công danh thênh thang, nữ gặp nó phúc thọ đều được;

    Nếu được cả hai đức phù trợ thì lợi về đường công danh, ít bệnh tật, âm dương cân bằng, văn học siêu quần, chức tước vinh hiển.

    Nữ có hai đức thì tính tình ôn thuận, lấy được chồng đẹp, thông minh, con nhà giàu sang; dễ sinh đẻ.

    Theo sách xưa:

    « Thiên đức vốn là đại cát, nếu gặp ngày giờ thì rất tốt, thi cử sẽ đỗ cao, làm việc gì cũng thành công... Trong mệnh nếu có thiên, nguyệt đức thì cầu việc gì cũng lợi; sĩ nông công thương làm nghề gì cũng gặp may. Anh em, vợ chồng không khắc hại nhau, âm đức tổ tiên dồi dào, còn trẻ đã thành đạt ».

    • tài, quan, ấn, thực, còn có hai đức thì phúc lực tăng thêm.
    • gặp kiếp, sát, thương, kiêu, mà có hai đức thì hoá giải bớt sự hung bạo.

    Thiên đức, nguyệt đức được cát thần phù trợ càng thêm tốt, sợ nhất là gặp xung khắc, bị xung khắc tất nhiên vô lực, không có tác dụng gì.

    Có thể bạn quan tâm:

    Từ Khóa:
    Thể loại:

    Bài Chọn Lọc